Cập nhật: Thứ sáu 30/09/2022 - 14:25
Kỳ thị, tự kỳ thị, kỳ thị chéo và phân biệt đối xử là rào cản lớn đối với người nhiễm HIV, khiến cho họ khó tiếp cận điều trị, cũng như sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Kỳ thị, tự kỳ thị, kỳ thị chéo và phân biệt đối xử là rào cản lớn đối với người nhiễm HIV, khiến cho họ khó tiếp cận điều trị, cũng như sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Kỳ thị, tự kỳ thị, kỳ thị chéo và phân biệt đối xử là rào cản lớn đối với người nhiễm HIV, khiến cho họ khó tiếp cận điều trị, cũng như sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Đối mặt với kỳ thị và phân biệt đối xử

Anh Đỗ Đăng Đông, Chủ tịch Mạng lưới Người sống với HIV Việt Nam (VNP+), trưởng nhóm nghiên cứu kỳ thị với người HIV tại Việt Nam cho biết, hơn 30 năm sau khi ca HIV đầu tiên ở Việt Nam được ghi nhận, người nhiễm HIV và các quần thể nguy cơ tiếp tục phải đối mặt với kỳ thị và phân biệt đối xử. Các hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử có thể kể đến là cô lập khỏi các hoạt động xã hội hoặc bị loại trừ khỏi xã hội, bị phân biệt đối xử về cơ hội việc làm hoặc nơi ở, bị từ chối cung cấp các dịch vụ y tế, bạo lực, quấy rối và nhiều hành vi khác như xúc phạm bằng lời nói, bị bàn tán, không được tham gia các hoạt động gia đình, xã hội, tôn giáo…

Ngoài ra, kỳ thị cũng có thể cản trở người có HIV tiếp cận các nhu cầu y tế khác, chẳng hạn như gánh nặng các bệnh không lây nhiễm (NCDs) ngày càng gia tăng khi các trường hợp người nhiễm HIV già đi.

Trong nghiên cứu kỳ thị với người nhiễm HIV tại Việt Nam năm 2020-2021 chỉ rõ, tự kỳ thị còn được gọi là kỳ thị "tự cảm nhận" hay "tự kỳ thị bản thân", là có cảm giác xấu hổ, tội lỗi về tình trạng dương tính với HIV của bản thân. Tự kỳ thị có thể dẫn đến thiếu tự tôn, một cảm giác vô dụng của bản thân và chán nản.

Bên cạnh đó, tự kỳ thị cũng có thể khiến cho người nhiễm HIV xa lánh xã hội và những người thân thiết, hoặc từ bỏ cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ và cơ hội được thoát khỏi sự lo sợ rằng tình trạng của họ có thể bị tiết lộ hoặc bị phân biệt đối xử vì tình trạng dương tính với HIV.

Trường hợp của chị N.T.M, 38 tuổi ở Hà Nội là ví dụ điển hình. Chị M. nhiễm HIV gần 8 năm nay, nhưng do tự kỳ thị bản thân chị đã không tiếp cận điều trị, không dám tiếp xúc với ai vì chị cho rằng cứ mỗi lần chị bước chân ra ngoài đường là mọi người đều sẽ đổ dồn về chị với ánh mắt dè bỉu, coi thường. Không chỉ tự ti với chính bản thân, chị M còn lo ngại gia đình chị cũng bị ảnh hưởng do bệnh tình của chị. Nhiều năm liền chị thu mình sống trong bóng tối, và rồi sức khỏe của chị ngày càng yếu, đến lúc này thì gia đình chị phải vận động chị đi điều trị. Đến cơ sở y tế chị được các y bác sĩ hướng dẫn điều trị tận tình. Thậm chí có nữ y tá rất thương cho hoàn cảnh của chị còn coi chị như người nhà. Vượt qua mặc cảm, chị chăm chỉ điều trị theo hướng dẫn. Đến nay chị đã tham gia điều trị được hơn 4 năm, sức khỏe chị đã thay đổi rõ rệt, giúp chị tìm được công việc để nuôi sống bản thân và hỗ trợ gia đình.

Một trường hợp nhiễm HIV khác, anh N.T.G 35 tuổi cũng tâm sự, anh rất sợ bị lộ thông tin người khác biết, bởi anh sẽ mất cơ hội việc làm, mất hết sự nghiệp do đó anh không dám lấy thuốc điều trị ở gần nhà vì sợ người quen nhìn thấy. Mỗi lần đi khám bệnh, lấy thuốc điều trị anh phải đi thật xa nhà, vừa tốn thời gian, vừa ảnh hưởng đến công việc, nhưng anh G vẫn không vượt qua được cảm giác sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử.

Mở rộng các mô hình cung cấp dịch vụ đa dạng hóa

Trong nghiên cứu kỳ thị với người nhiễm HIV tại Việt Nam năm 2020-2021, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp chính để giảm thiểu kì thị và phân biệt đối xử với HIV trong cộng đồng.

Anh Đỗ Đăng Đông cho biết, đối với kỳ thị cần xây dựng các chiến lược truyền thông giúp nâng cao nhận thức về HIV để họ hiểu và hỗ trợ quyền của người nhiễm HIV và các nhóm quần thể nguy cơ; mở rộng các dịch vụ tư vấn gia đình để tạo điều kiện tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa những người nhiễm HIV và gia đình để hỗ trợ, trang bị cho các thành viên trong gia đình các kỹ năng ứng phó với kỳ thị từ cộng đồng tập trung vào người thân sống với HIV của họ.

Đồng thời, đa dạng hóa các chiến dịch và can thiệp xóa bỏ kỳ thị đối với HIV để đảm bảo các thông điệp được điều chỉnh sao cho phù hợp với các nhu cầu.

Đối với tình trạng tự kỳ thị, cần xây dựng năng lực cho các tổ chức cộng đồng HIV để xây dựng và triển khai các can thiệp đồng đẳng và can thiệp nhóm dành cho người nhiễm HIV và các nhóm quần thể nguy cơ, tập trung giảm tự kỳ thị, nâng cao sức khỏe; tiếp tục đẩy mạnh việc phổ biến hiệu quả thông điệp K=K (Không phát hiện= Không lây nhiễm) tại Việt Nam.

Đối với kỳ thị chéo, mở rộng và phát triển hơn nữa các mô hình cung cấp dịch vụ được đa dạng hóa trong khu vực nhà nước và tư nhân nhằm cung cấp cho các nhóm quần thể nguy cơ và người nhiễm HIV nhiều lựa chọn và giải pháp tiếp cận dịch vụ y tế dành cho họ; mở rộng chăm sóc HIV thân thiện với người chuyển giới và dịch vụ y tế khẳng định giới. Ví dụ như liệu pháp thay thế hormone được lồng ghép vào các dịch vụ HIV.

Bên cạnh đó, đào tạo, tập huấn nhân viên y tế để thực hiện các chiến lược giảm hại và tư vấn liên quan đến sức khỏe tình dục, mang quan điểm tích cực về tình dục, theo hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với các nhóm quần thể nguy cơ.

Để giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV cũng cần có những sáng kiến giúp nâng cao chăm sóc người nhiễm HIV không phân biệt giới tính và kỳ thị do xu hướng tình dục, bản dạng giới và biểu hiện giới để trang bị cho nhân viên y tế trong việc hỗ trợ hiệu quả cho các nhóm quần thể nguy cơ.

Việc kỳ thị và phân biệt đối xử không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người nhiễm HIV hoặc những người có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV, mà còn tiếp tay cho HIV âm thầm lây lan trong cộng đồng. Những người nhiễm HIV e sợ thái độ kỳ thị hoặc bị phân biệt đối xử sẽ tránh né xét nghiệm và không áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV.

Hiện nay, người sống chung với HIV hoàn toàn có thể có một cuộc sống khỏe mạnh, hạnh phúc như những người không có HIV khác trong xã hội nếu được phát hiện kịp thời và tuân thủ điều trị HIV bằng thuốc kháng ARV. Bên cạnh việc chăm lo cho sức khỏe bản thân, người nhiễm HIV có thể chủ động dự phòng lây truyền HIV cho người khác khi tình trạng nhiễm HIV của họ được kiểm soát dưới ngưỡng phát hiện (K=K hay Không lây phát hiện = Không lây truyền, ý chỉ việc người sống chung với HIV khi tuân thủ điều trị ARV có thể giảm tải lượng virus xuống dưới mức 200 bản sao/ml máu thì không còn khả năng lây truyền cho người khác).

Vì vậy, tất cả chúng ta hãy chung tay hỗ trợ người nhiễm HIV và những người có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV, cùng mở lòng, chia sẻ, đồng cảm với những nhóm người dễ bị tổn thương nhất để kỳ thị và phân biệt đối xử chỉ còn là quá khứ. Đồng lòng, chúng ta sẽ xóa bỏ được kỳ thị và phân biệt đối xử. Đồng lòng, chúng ta sẽ kết thúc được dịch AIDS!


Theo Tiengchuong.vn